Chuyên gia nói gì về lạm phát thấp của Việt Nam?

Rate this post

Nhiều nước đang phải chống chọi với lạm phát cao, nhưng ở Việt Nam, mức lạm phát vẫn ở mức thấp và vẫn nằm trong mục tiêu kiểm soát đề ra từ đầu năm …

Hai kịch bản mà Bộ Tài chính vừa định hình cũng cho rằng lạm phát năm nay sẽ được kiểm soát ở mức thấp.

Thực tế trên được nhìn nhận như thế nào và áp lực đối với Việt Nam không quá đáng lo ngại?

Theo PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh, người dân và doanh nghiệp tin tưởng vào sự phục hồi và phát triển của nền kinh tế Việt Nam, góp phần giảm kỳ vọng lạm phát

Sự khác biệt của Việt Nam

Các thông tin cập nhật cho thấy lạm phát tiếp tục là thách thức lớn trên toàn cầu. Tại Anh, lạm phát đã lập kỷ lục mới trong 40 năm vào tháng 7, tăng lên 10,1%, từ mức 9,4% trong tháng 6; ở châu Âu tăng lên mức cao kỷ lục 9,1% vào tháng 8 năm 2022; ở Mỹ tăng 8,5% vào tháng 7 năm 2022; hoặc gần hơn ở Thái Lan đã tăng lên 7,86% trong tháng 8 và là mức tăng cao nhất kể từ tháng 7 năm 2008…

Trong khi đó, Việt Nam hiện nằm trong nhóm các nước có lạm phát thấp trên thế giới. Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2022 chỉ tăng nhẹ 0,005% so với tháng trước. So với tháng 12/2021, CPI tháng 8 tăng 3,6% và so với cùng kỳ năm trước tăng 2,89%. Bình quân 8 tháng năm 2022, CPI tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 1,64%.

Theo PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh – Giảng viên Học viện Tài chính, có nhiều nguyên nhân khiến tỷ lệ lạm phát của Việt Nam rất thấp so với tỷ lệ lạm phát rất cao của nhiều nước trên thế giới và trong khu vực.

Thứ nhất, từ cuối tháng 6 đến nay, cùng với mặt hàng xăng dầu, giá nhiều mặt hàng như măng, sắt thép, thức ăn chăn nuôi … đang có xu hướng giảm.

Thứ hai, các chính sách điều hành cân đối vĩ mô của nền kinh tế, đặc biệt là hệ thống tài chính ngân hàng là rất tốt.

“Đồng đô la chỉ tăng 0,21% trong tám tháng qua. Như vậy, VND tăng tỷ trọng so với USD và đã lên giá so với các đồng EUR, Yên Nhật, Bảng Anh, Nhân dân tệ Trung Quốc, Won Hàn Quốc… Điều này cũng giảm áp lực lên lạm phát của Việt Nam ”, ông Thịnh phân tích.

Thứ ba, 8 tháng đầu năm, giải ngân vốn FDI rất lớn, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2021. Điều này đồng nghĩa với việc nguồn ngoại tệ của Việt Nam dồi dào, giảm áp lực tăng giá VND, từ đó kiểm soát được. giảm lạm phát.

“Ngoài ra, Việt Nam cũng có mức tăng trưởng khá, với số lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, đầu tư mới vào nền kinh tế gần 160.000 doanh nghiệp trong 8 tháng qua, tăng hơn 36% so với cùng kỳ năm ngoái. . năm ngoái. Điều này cho thấy người dân và doanh nghiệp có niềm tin vào sự phục hồi và phát triển của kinh tế Việt Nam, giảm kỳ vọng lạm phát ”, ông Thịnh nói.

Dự báo tỷ lệ lạm phát cả năm 2022, PGS.TS. Nguyễn Bá Minh – Viện trưởng Viện Kinh tế – Tài chính cho rằng, áp lực lạm phát đối với Việt Nam hiện nay là do chi phí đẩy, chủ yếu là giá năng lượng. Do đó, nếu giá dầu thế giới không vượt quá 120 USD / thùng, Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát vào năm 2022 dưới 4%.

Phân tích về giá dầu, ông Minh cũng cho rằng khả năng giá dầu tăng mạnh sẽ không cao, chỉ ở mức 90-120 USD / thùng. Bởi trên thực tế, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và các ngân hàng trung ương trên thế giới đang thắt chặt chính sách tiền tệ để chống lạm phát, khiến kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, thậm chí có trường hợp không. một nửa dự báo so với đầu năm. Điều này dẫn đến nhu cầu nguyên liệu, vật liệu cơ bản của xăng dầu giảm nên xăng không thể tăng thêm.

“Với giá dầu ở mức 100 USD / thùng, giá xăng tại Việt Nam trong thời gian tới vẫn còn nhiều dư địa để giảm. Theo đó, bức tranh lạm phát của Việt Nam những tháng cuối năm cũng sẽ rất khả quan ”, ông Minh tính toán.

Chuyên gia nói gì về lạm phát thấp của Việt Nam?  - Ảnh 2.

Theo PGS.TS. Nguyễn Bá Minh, nếu giá dầu thế giới không vượt quá 120 USD / thùng, Việt Nam sẽ đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát vào năm 2022 dưới 4%.

Bốn nhóm nhân tố chính có thể khiến lạm phát tăng

Theo bà Nguyễn Thu Oanh – Vụ trưởng Vụ Thống kê giá, Tổng cục Thống kê, áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm là rất lớn. Để đạt được 4% chỉ tiêu Quốc hội đề ra cho năm nay là một thách thức rất lớn. Có 4 nhóm yếu tố chính có thể khiến CPI tăng trong những tháng cuối năm.

Thứ nhất, giá nguyên, vật liệu trên thế giới đang ở mức cao nhưng Việt Nam là nước phải nhập khẩu nhiều để sản xuất nên giá cao sẽ ảnh hưởng đến chi phí, giá thành, tạo áp lực. cho sản xuất của các doanh nghiệp và từ đó đẩy giá hàng tiêu dùng trong nước lên cao, gây áp lực lên lạm phát toàn nền kinh tế.

“Đặc biệt, giá xăng dầu có nhiều biến động sẽ ảnh hưởng đến mặt bằng giá của nhiều mặt hàng quan trọng như xăng dầu, vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng, giao thông vận tải. Hiện giá xăng dầu thành phẩm trên thị trường Singapore chiếm khoảng 70% giá cơ sở đối với xăng và khoảng 80% giá cơ sở đối với dầu nên giá thế giới tăng tác động rất mạnh đến giá trong nước. Theo Tổng cục Thống kê, cứ giá xăng dầu tăng 10% sẽ làm CPI tăng 0,36 điểm phần trăm ”, bà Oanh thông tin.

Thứ hai, giá lương thực, thực phẩm có khả năng tăng trong những tháng cuối năm, nhất là khi dịch bệnh đã được khống chế và nhu cầu tiêu dùng của người dân đang quay trở lại thời điểm trước khi đại dịch xảy ra. Mặc dù chúng ta có lợi thế là chủ động về nguồn lương thực trong nước nhưng sẽ khó tránh khỏi tác động khi thế giới có nguy cơ đối mặt với cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu.

Thứ ba, kinh tế trong nước đang trong giai đoạn phục hồi rõ nét và cùng với các gói hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhiều khả năng sự phục hồi sẽ mạnh hơn những tháng cuối năm, khi nhu cầu tiêu dùng hàng hóa của người dân sẽ mạnh hơn. dân số tăng mạnh, các hoạt động dịch vụ cũng tăng như du lịch, vui chơi, giải trí, ăn uống ngoài gia đình sẽ đẩy giá hàng hóa, dịch vụ lên cao và tạo áp lực. lực lượng đối với lạm phát.

Thứ tư, việc điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục, y tế theo lộ trình của Nhà nước cũng sẽ tác động đến chỉ số giá tiêu dùng, đặc biệt là việc áp dụng khung học phí công lập các cấp theo Nghị định số 81, ngoài ra, kể từ ngày 1/7/2022 , việc tăng lương cũng sẽ có tác động làm tăng CPI.

“Tuy nhiên, đối với việc tăng lương là cần thiết trong thời điểm này, việc tăng lương sẽ tạo động lực để doanh nghiệp cơ cấu lại chi phí và là động lực để người lao động làm việc tốt hơn, nâng cao năng suất lao động. Điều này cũng sẽ bù đắp chi phí tăng lương của doanh nghiệp ”, bà Oanh lập luận.

Chuyên gia nói gì về lạm phát thấp của Việt Nam?  - Ảnh 3.

Theo bà Nguyễn Thu Oanh – Cục trưởng Cục Thống kê giá, cần nghiên cứu, đánh giá kỹ tác động của việc điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục theo Nghị định 81 và giá dịch vụ y tế theo lộ trình để điều chỉnh cho phù hợp.

Tránh đồng loạt tăng giá hàng hóa do nhà nước quản lý

Theo PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh, Việt Nam có mức độ hội nhập tương đối lớn nên giá nguyên liệu, nhất là nhóm nhiên liệu, năng lượng trên thị trường thế giới liên tục tăng làm tăng giá nhiều loại nguyên, vật liệu. nguyên liệu nhập khẩu; chi phí vận tải và hậu cần tăng dẫn đến tăng chi phí sản xuất và tăng giá hàng hóa trong nước – điều này sẽ gây áp lực lạm phát lên nền kinh tế.

Đáng lo ngại, nếu giá dầu quay trở lại mức vượt 120 USD / thùng thì việc kiểm soát lạm phát sẽ là một thách thức đối với Việt Nam, với khả năng lạm phát có thể trên 4%.

“Khi lạm phát tăng sẽ ăn mòn toàn bộ lợi nhuận, doanh thu của người dân, doanh nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế”, ông Thịnh nói.

Do đó, ông Thịnh cho rằng cùng với việc điều chỉnh kịp thời các công cụ thuế, giảm thuế đối với mặt hàng xăng dầu nhập khẩu nhằm bình ổn giá, kiềm chế sự gia tăng của CPI cả nước trong khung mục tiêu đã xác định thì cũng có thể giảm thuế đối với xăng dầu nhập khẩu. Mỹ phẩm. Cần kiểm soát chặt chẽ giá các sản phẩm đầu vào để hạn chế tình trạng tăng giá, từng bước đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên liệu hàng hóa trong nước thay thế hàng nhập khẩu. Qua đó, hạn chế tác động của hàng nhập khẩu giá cao từ thế giới.

Trong khi đó, một chuyên gia của Tổng cục Thống kê cho rằng cần nghiên cứu, đánh giá kỹ tác động của việc điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục theo Nghị định 81 và giá dịch vụ y tế theo lộ trình để điều chỉnh cho phù hợp. . Không điều chỉnh giá nhiều mặt hàng do Nhà nước quản lý trong cùng một tháng. Và khi điều chỉnh học phí cần có sự điều chỉnh điều chỉnh giữa các địa phương để tránh tạo áp lực lạm phát tăng cao.

“Nhìn chung, cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đã đề ra, đặc biệt cần đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời. vốn tín dụng cho nền kinh tế, nhưng không được chủ quan với rủi ro lạm phát ”, bà Nguyễn Thu Oanh nói.

Thanh Thuy

Leave a Reply

Your email address will not be published.