Khi nào Việt Nam chủ động được nguồn dược liệu?

Rate this post

Đảm bảo dùng thuốc tại các cơ sở y tế. Ảnh: TTXVN

Vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu

Tháng 2/2022, khi dịch COVID-19 lên đến đỉnh điểm, nhu cầu điều trị tăng vọt, Việt Nam đã kịp sản xuất 3 loại thuốc chứa Molnupiravir, là thuốc kháng vi rút dùng trong điều trị COVID-19, khẩn trương đưa ra kế hoạch. đáp ứng nhu cầu điều trị của người dân, giúp người dân dễ dàng mua được thuốc với giá cả hợp lý, rẻ hơn nhiều so với thuốc ngoại nhập.

Việc sản xuất nhanh các loại thuốc này đã giúp Việt Nam sớm tự chủ được một số loại thuốc dùng trong điều trị COVID-19 trong bối cảnh khan hiếm thuốc khi dịch lan rộng trên thế giới. Điều này cũng cho thấy các doanh nghiệp dược trong nước có đủ năng lực ứng phó khi có tình huống bất ngờ xảy ra.

Tuy nhiên, bên cạnh nỗ lực đó, sau đợt dịch thứ 4 vừa qua cũng là tình trạng khan hiếm thuốc điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có nguyên nhân khan hiếm hàng, khó nhập thuốc. Khi Việt Nam vẫn phụ thuộc vào thuốc nhập khẩu, thị trường thuốc trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu đột biến; Dịch COVID-19 đã lộ rõ ​​“vòng xoáy” khi chuỗi cung ứng thuốc từ các nước bị đứt đoạn.

Chẳng hạn, vừa qua, có nguy cơ thiếu thuốc gây tê tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương. Theo lãnh đạo bệnh viện, loại thuốc tê mà bệnh viện đang sử dụng phải nhập khẩu từ Pháp, Canada; Việt Nam chưa sản xuất được loại thuốc này.

Trong thời kỳ cao điểm của dịch sốt xuất huyết vừa qua, nhu cầu về dịch truyền có chứa Dextran 40 hoặc Dextran 70 trong điều trị bệnh nhân sốc sốt xuất huyết tăng đột biến. Tuy nhiên, với các loại thuốc này, hiện chưa có sản phẩm nào có giấy chứng nhận đăng ký lưu hành tại Việt Nam. Việc nhập khẩu thuốc gặp nhiều khó khăn do hạn chế của các cơ sở nước ngoài cung cấp thuốc vào Việt Nam (hiện mới có một cơ sở sản xuất ở Thái Lan cung cấp dịch truyền này cho Việt Nam).

Từ những thực tế trên có thể thấy, việc chủ động sản xuất dược phẩm trong nước sẽ giúp Việt Nam không rơi vào thế bị động. Đây cũng là chỉ đạo của Chính phủ trong thời gian tới.

Đánh giá về thực trạng ngành dược, ông Vũ Tuấn Cường, Cục trưởng Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cho biết: “Cả nước có 228 nhà máy sản xuất dược phẩm đạt tiêu chuẩn GMP-WHO. Năm 2021, ước tính tổng giá trị tiền thuốc sử dụng là 6,92 tỷ USD (tương đương 73 USD / người); Thuốc sản xuất trong nước chiếm 45% tổng giá trị thuốc điều trị. Tuy nhiên, hiện nay, các doanh nghiệp dược chủ yếu tập trung sản xuất thuốc tương đương với thuốc phát minh (thuốc gốc), chưa chú trọng nghiên cứu sản xuất thuốc công nghệ cao, thuốc mới, thuốc chuyên khoa, thuốc phát triển. Trong khi đó, trên thị trường dược phẩm Việt Nam, thuốc sáng chế chỉ chiếm 3%, nhưng chiếm tới 22% giá trị, chủ yếu phải nhập khẩu.

Đặc biệt, đối mặt với đợt dịch bệnh vừa qua, ngành dược Việt Nam đã bộc lộ những yếu kém, nhất là việc 80-90% nguyên liệu sản xuất phụ thuộc vào nhập khẩu; trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là hai nhà cung cấp lớn nhất. Trong bối cảnh COVID-19 bùng phát, việc sản xuất nguyên liệu tại các quốc gia này bị gián đoạn, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng hóa dược, ảnh hưởng đến sản xuất trong nước trong thời gian dài. thông qua.

Theo lãnh đạo Cục Quản lý Dược, việc sản xuất thuốc trong nước còn một số hạn chế như: Các cơ sở sản xuất thuốc chủ yếu đầu tư dây chuyền sản xuất các dạng bào chế đơn giản nhưng vốn đầu tư rất hạn chế. , ứng dụng công nghệ sản xuất các dạng bào chế hiện đại. Việc đầu tư còn chồng chéo, sản xuất thuốc giá trị thấp, dây chuyền sản xuất đơn giản, chủ yếu tập trung vào các loại thuốc thông thường, mẫu mã “nhái” …

Hiện nay, biệt dược, một số biệt dược có dạng bào chế phức tạp vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài; Nguyên nhân là do chưa có sự hỗ trợ, định hướng của Nhà nước về vốn và đầu ra của sản phẩm.

Bên cạnh đó, trong khi phát triển sản xuất thuốc generic hiện đang là ưu tiên của nhiều nước, kể cả các nước phát triển, thì chính sách hỗ trợ phát triển thuốc generic vẫn chưa phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Về trình độ kỹ thuật và công nghệ của nguồn nhân lực ngành dược, cơ hội tiếp cận và được đào tạo nâng cao, tiếp cận công nghệ hiện đại, nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật bào chế mới còn hạn chế. chưa được chú trọng triển khai, ứng dụng vào sản xuất. Các cơ sở có khả năng tìm kiếm đối tác và có định hướng nâng cấp nhà máy đạt tiêu chuẩn EU-GMP, PICs-GMP để phát triển theo hướng chuyển giao công nghệ cũng gặp khó khăn về đầu tư. Thiếu vốn cũng khiến việc tiếp cận công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại, đầu tư sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu điều trị còn hạn chế.

Đặc biệt, Việt Nam chưa phát huy được thế mạnh của một quốc gia có tiềm năng về dược liệu và y học cổ truyền, sản xuất vắc xin, phát triển hóa dược để tăng khả năng đáp ứng nguyên liệu cho ngành dược Việt Nam. .

Bà Trần Thị Thu, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dược Việt Nam: Để tăng tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước, cần đầu tư đẩy mạnh sản xuất, doanh nghiệp phải ứng dụng kỹ thuật cao, chuyển giao công nghệ làm thuốc; từ đó nâng cao giá trị thuốc sản xuất trong nước.

Gỡ bỏ khó khăn

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Quyết định về Chương trình phát triển ngành dược liệu, dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nhằm xây dựng đồng bộ các cơ chế, giải pháp tháo gỡ khó khăn. những vướng mắc, bất cập để từng bước đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng, giá cả hợp lý phục vụ nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Bộ Y tế đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan và doanh nghiệp triển khai.

Theo đó, mục tiêu lớn nhất là cung ứng đủ thuốc cho nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân với chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý; phù hợp với cơ cấu bệnh tật, đáp ứng kịp thời các yêu cầu về an ninh, quốc phòng, thiên tai, dịch bệnh và các nhu cầu cấp thiết khác.

Để phát triển ngành dược, Cục trưởng Cục Quản lý Dược Vũ Tuấn Cường cho rằng: Hiện nay, các chính sách ưu đãi dành cho ngành dược đang ở mức tối đa; Các ưu đãi đầu tư cho ngành dược như miễn thuế đất, các chính sách ưu đãi cũng cần hấp dẫn và có tổ chức. Các lĩnh vực công nghiệp dược cần tập trung thu hút đầu tư vào công nghệ bào chế và nâng cao chất lượng sản phẩm; nguyên liệu sản xuất; xây dựng trung tâm nghiên cứu vắc xin, sinh phẩm và chuyển giao công nghệ vắc xin đa giá; phát triển nguồn dược liệu trong nước; nâng cao năng lực nghiên cứu và kiểm nghiệm dược phẩm.

Theo lãnh đạo Tổng công ty Dược Việt Nam, từ trước đến nay, các doanh nghiệp dược trong nước đã có những tiêu chuẩn rất cao như: GMP-WHO, GMP-EU, PICs-GMP. Ngành dược của Việt Nam cũng đang ở mức rất cao so với các nước xung quanh; Đây là điều kiện tốt để thực hiện mục tiêu của ngành Dược. Dự kiến ​​đến năm 2025, nếu các nhà máy này sản xuất hết công suất, Việt Nam sẽ không thiếu thuốc và tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước chắc chắn đạt 70 – 80%. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào một số yếu tố. Cụ thể, các nhà máy được cấp phép đầy đủ thì việc sản xuất sẽ đều đặn, đảm bảo không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc; nếu sản lượng được tăng lên, giá trị sẽ tăng lên; Tuy nhiên, vẫn còn phụ thuộc vào vấn đề cấp phép sản xuất, thuốc phát minh, thuốc biệt dược gốc, cơ chế thương mại đa phương mà Việt Nam tham gia, đặc biệt là vấn đề chúng ta có đủ năng lực sản xuất thuốc nhưng có sử dụng được hay không. liên quan đến cơ chế đấu thầu.

Ông Đinh Xuân Huân, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Dược Việt Nam cũng đề nghị, thời gian tới, các doanh nghiệp dược cần tháo gỡ khó khăn liên quan đến nguồn lực tài chính; do tỷ lệ nợ tiền sử dụng thuốc của các cơ sở y tế hiện nay rất lớn, vốn nhỏ nên doanh nghiệp khó quay vòng đầu tư; Cơ chế đầu tư sản xuất thuốc công nghệ cao cũng cần linh hoạt trong việc kết hợp sản xuất các loại thuốc thông thường khác.

Các doanh nghiệp cũng kiến ​​nghị cần tháo gỡ, cải cách triệt để các thủ tục hành chính như: Cấp số đăng ký thuốc; tiền kiểm, hậu kiểm trong lĩnh vực dược; cùng với các ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng để thúc đẩy ngành dược trong nước phát triển.

Tại buổi làm việc với các doanh nghiệp dược mới đây, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, mục tiêu lớn nhất của chiến lược phát triển ngành dược là đảm bảo có đủ thuốc tốt với giá hợp lý nhất cho người dân.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng yêu cầu Bộ Y tế sửa Luật Dược càng nhanh càng tốt. Không chỉ tập trung xử lý những vấn đề trước mắt mà còn phải quan tâm đến những mục tiêu lâu dài như: Định hướng phát triển ngành dược, hệ thống phân phối. Đồng thời, BHXH Việt Nam cũng khẩn trương trình phương án xử lý tình trạng nợ thuốc, vật tư thuộc diện BHYT do thanh toán vượt chi.

Đặc biệt, Bộ Y tế cần thường xuyên tổ chức gặp gỡ, làm việc với các hiệp hội, doanh nghiệp dược và các bộ, ngành liên quan để xử lý ngay những vướng mắc cụ thể phát sinh trong thực tế.

Thanh Thuy

Leave a Reply

Your email address will not be published.