Kinh Đạo Nam – Một bộ kinh độc đáo của Việt Nam

Rate this post

Phong tục này ở nước ta đã có hàng trăm năm, nhưng phát triển mạnh nhất vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Theo thống kê của Viện Hán Nôm, chúng tôi đã sưu tầm được hơn 250 bộ kinh. , viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu một bộ kinh. Đó là Kinh Nam Bộ.

Sinh thời, nhà sử học Đào Duy Anh rất chú ý đến bộ kinh này. Trong hồi ký của mình, ông Đạo giới thiệu: “Lập đàn để khuyến thiện là một tập tục có từ lâu đời trong xã hội phong kiến ​​của nước ta, nó thường bị nhầm lẫn với việc thờ cúng mê tín, cầu phúc của Đạo giáo. , chẳng hạn như Điện Thiên Trường tỉnh Nam Định, nhà hàng Linh Tiên tỉnh Hà Tây, nhà hàng Trấn Vũ, đền Ngọc Sơn, Hà Nội, thường có các bản kinh của Đạo giáo … để đọc và giảng đạo từ khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lược. , đã có những nhà Nho phẫn uất hoặc về quê mở trường dạy học, hoặc lập diễn đàn từ thiện với hy vọng mượn được thiện lương để bảo vệ vương quốc, “Các nhà nho đều có ý kiến ​​bình thường”.

Làm thế nào để thành lập một tổ chức từ thiện?

Gian thường được chọn làm chùa (Đạo kinh) hoặc nhà tu hành (kinh Đạo Nam). Sắp xếp như thế nào? Theo ông Đạo, về cơ bản là giống nhau, không khác nhau nhiều. Ông nêu một ví dụ về cách bố trí cây đàn giỏi ở Thái Nguyên được ghi trong Kinh Thiên Thư Kim Giám: “Văn Xương Đế Quân hướng dẫn cách bố trí cây đàn: Trên cùng, chính giữa đặt tôn nghiêm của Ngọc Hoàng. .Bên ngoài cổng cung cấm, ban thờ các vị thần ở điện Thông Minh và tam quan, bên trái đặt ban thờ Trần Vương (Hưng Đạo), Đông Vương (Phù Đổng Thiên Vương), gian giữa thờ thần Tản Viên, thần Lý Tôn (Lý Phục Man), gian dưới thờ Nhị Thập Bát Tú, gian dưới thờ Đạo Trí Vương Mẫu, gian giữa thờ Bồ tát Quan Âm và thánh mẫu. Mẹ Vân Hương (Liễu Hạnh); gian dưới thờ các công chúa (phụ thần theo thánh mẫu) của nước Nam.

Trong sân có hương án thờ các vị trung thần âm dương. Cây bút nào là cây bút để ghi lại những lời chúc phúc? Theo lời kinh trên, “Bút tích dùng một cành đào mọc ở phía Đông, dài 3 thước, chu vi 3 phân, bọc vàng ba đầu vuông, xỏ một lỗ bằng lụa ngũ sắc luồn qua cho. hai đầu, hai bên trái phải buộc một sợi dây đồng nhỏ, dưới bút là một con rồng cao 3m, trên bệ là một chiếc bàn bằng gỗ xoan đào phủ vải đỏ, chỉ khoét một lỗ nhỏ. đã để lại trước mặt. Đứng quầy nhận thư ”. Bức thư được viết ở đâu? Xin thưa, các chữ được viết trên gạo hoặc trên cát. Gạo hoặc cát đổ trên bàn gỗ xoan đào. Ngoài ra còn có Văn đế và Lã nhị đế đứng hai bên tả hữu. Hai vị này có nhiệm vụ báo cáo với Ngọc Hoàng sắc thần và các vị thần. Khi nào là thời gian tốt nhất để thành lập một diễn đàn? Ông Đạo dẫn lời một chủ đàn giỏi ở Nam Định cho biết, các vị tiên thánh thường giáng bút vào những đêm vắng lặng, khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch.

Kinh Đạo Nam - Kinh Việt Nam đặc sắc -0

Hình thức tịnh xá trên là tôn giáo hay mê tín? Ông Đạo đặt câu hỏi: các vị tiên thánh giáng trần đều là thiên thần, tức là những vị thần do sự mê tín, tưởng tượng của người Việt tạo ra, hoặc là những danh nhân thời xưa được nhân dân thờ cúng. được tôn thờ như một vị thần, vì vậy có thể khẳng định câu chuyện khai bút là huyền thoại. Hay những nhà Nho yêu nước đã có ý thức lợi dụng hoạt động tôn giáo để che giấu ý đồ của mình, tức là ngụy tạo hoạt động chính trị thành hoạt động tôn giáo để che mắt kẻ thù?

Nhưng ông khẳng định ngay: “Nhưng xét thực tế thì cả hai trường hợp này đều có thể loại trừ được. Thứ nhất, xét thực tế thì không một người nào, trong điều kiện bình thường, có thể viết ngay một bài thơ thành bài thơ, nhưng có những câu, bài có thể. được viết rất hay. Nếu ai đó có thể làm được điều đó, thì người đó cũng là “tiên” hay “thánh” – nhưng không hẳn là thánh! Vì vậy có thể loại trừ trường hợp thứ hai. Nếu đó là một bài thơ, điều khó hiểu là khi nhìn vào nội dung của các bài hát, người ta thường thấy rằng trên thực tế, không ai trong số những người tham gia diễn đàn có thể có được kiến ​​thức và ý tưởng văn hóa như trong thơ. ”

Và người viết cảm thấy như thế nào khi viết những dòng chữ của tiên nữ thánh nhân? Ông Đạo dẫn lời ông Nguyễn Ngọc Tỉnh – người chép Kinh Đạo Nam. Anh Tình có trình độ Hán học trung bình. Bị Pháp bắt và giam ở Côn Lôn, Sơn La, ông Tính kể, khi cầm cây kê ông vẫn tỉnh táo và vẫn biết những gì đang xảy ra xung quanh, chỉ khi đọc bài văn xuôi với nhịp điệu du dương và ngửi thấy hương trầm thơm. đầu hơi choáng váng như vừa uống cạn chén rượu, cảm giác có chuyện gì thì cứ đặt tay lên khay cát chứ bản thân cũng không biết chữ. Nhưng khi tôi nghe điều gì đó đọc mà tôi biết là không đúng, bàn tay tự nhiên có cái gì đó tự nó không thể điều khiển được, chỉ cần cho tôi một dòng và một dấu gạch ngang, tôi sẽ đọc nó, cho đến khi tôi đọc đúng từ, tôi sẽ tư vấn để chấp nhận nó là chính xác.

Cuối bài báo, ông Đào Duy Anh kết luận: “Tôi nghĩ đây không phải là hiện tượng thần bí, chỉ là một hiện tượng tự nhiên mà khoa học chân chính, hay khoa học trên cơ sở duy vật, chưa giải thích được hoặc coi đó là hiện tượng tự nhiên. .đối tượng nghiên cứu… Tôi không giải thích được, xin ghi lại một cách khách quan để chờ khoa học khám phá sau ”.

Bộ Kinh Đạo Nam đầu tiên được in ván tại chùa Nam Định năm 1923. Bộ Kinh này gồm một trăm tờ chia làm hai quyển Càn và Khôn. Bài Càn có ý khuyên nông dân, công thương nghiệp, bài Càn khôn khuyên phụ nữ về tam tòng, tứ đức, mỗi bài đều thấm nhuần một tinh thần yêu nước dồi dào. Lúc sinh thời, Đào Duy Anh rất muốn dịch ra chữ quốc ngữ, nhưng không đủ thời gian. Năm 1982, khi đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông đã tặng cuốn kinh này cho một học trò của mình là bà Nguyễn Thị Thanh Xuân. Bà là người có thiên hướng về thơ Hán Nôm. Anh Đạo nói với chị: “Từ lâu tôi đã có ý định dịch và xuất bản cuốn sách này. Đây là một hiện tượng văn hóa lịch sử đáng được nghiên cứu, nhưng vì nhiều lý do tôi chưa làm được nên tôi đã giành được. một chương. trong tập hồi ký “Chiều hôm nhớ nhung” để ôn lại cuốn sách. Nếu được, cô nên chép lại và in để lưu giữ một kho tàng văn hóa cho mai sau ”.

Nhận sách từ tay thầy, hai mươi năm cô Nguyễn Thị Thanh Xuân quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng mà thầy giao cho. Cô âm thầm làm những công việc khó khăn một mình. Gặp những từ khó, câu khó, cô nhờ đồng nghiệp góp ý. Kết quả là đến năm 2005, khi bà đã bảy mươi tuổi, cuốn Kinh Nam Bộ đã được bà phiên âm và chú giải đầy đủ. Hai năm sau, Nhà xuất bản Lao động đã xuất bản với lời giới thiệu trang trọng: “Kinh này còn có một giá trị nhân văn khác, đó là giá trị tiếp nối cội nguồn học thuật, cái mà người xưa gọi là phong thủy, là cơ nghiệp.

Nội dung của Kinh Nam Bộ vô cùng phong phú. Ngay trong chương đầu tiên mang tên “Mở mang giáo dục” của công chúa Thượng Ngàn đã gửi tặng bài thơ “Bài ca khuyến khích trẻ em đọc sách”:Việc học phải có con / Thi thư nối dõi tông đường để dòng dõi Nho gia / Nước non cho kịp người / Sao không hổ thẹn với tiếng cha mẹ… / Chớ theo loài không giống loài / Chơi bời lêu lổng và lang thang khắp nơi / Học không bỏ công sức / Có thấy hay không sợ! / Sự khôn ngoan ngày càng kém / Để suốt đời chịu kiếp nô lệ của sự ngu ngốc“. Đây là” Bài ca thầy trò “:”Anh em mái đầu xanh / Nhờ cha mẹ chăm học / Không thầy cô dễ làm khó / Chỉ học thầy đừng quên ơn thầy cô… / Đừng theo thói đời / Học để hiểu đồng, Trả hóa đơn để cầu vinh / Đừng theo thói ganh đua / Thi đỗ, kiếm đai / Học là nghiệp lớn / Mở mang đầu óc, rèn luyện tinh thần / Trước là học cho minh mẫn / Sau mới là nhiều hơn” – nghĩa là làm hết sức mình để phụng sự Đức Chúa Trời và mang lại ân huệ cho người dân.

Trong chương thứ tư có tên là “Tiết kiệm tiền của”, chép rằng Đào Hoa Thị Phụng có bài thơ:Có nhà thì chớ trộm cắp / Có phúc thì ắt giàu … / Vui thì dù có hạnh phúc / Mà ngựa xe trông vênh váo / Có hai thì muốn. để chi tiêu ba / Làm thế nào để bạn thoát khỏi nợ?? “Trong chương này còn có những bài khuyên người ta cấm cờ bạc, cấm kiện tụng, cấm hút thuốc phiện, cấm uống rượu, cấm dâm ô, … Chương thứ năm có tựa đề” Sửa đổi phong tục “, trong đó, đặc biệt có hình thức của những bài thơ này thường là một bài hát ru, các chương sau mang các nhan đề như “Mở rộng giao tiếp”, “Họp mặt công ty”, “Tôn trọng giống nòi”, “Lòng yêu nước”…

Hãy hình dung, cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, cuộc khởi nghĩa Yên Thế bị đàn áp, phong trào Duy Tân thất bại, tiếng nói yêu nước bị cấm đoán, những nhà thơ yêu nước như Tản Đà phải mượn câu chuyện ẩn dụ để viết “Thề non nước”; Ông A Nam Trần Tuấn Khải viết “Hai chữ Tổ quốc”, nói Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt, nói với Nguyễn Trãi những lời dũng cảm nơi biên ải, những lời thánh vịnh giá trị biết bao. Đó là những lời động viên tinh thần yêu nước, sống vì đạo làm người.

Thanh Thuy

Leave a Reply

Your email address will not be published.