Tạm biệt cá chuồn!

Rate this post

Huỳnh Hoa

SAN JOSE, California (NV) – Những cuộc truy đuổi, bắt giữ liên tục của cảnh sát biển Trung Quốc với ngư dân Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa đã làm mất đi nghề đánh cá ở quê tôi và xóa đi một nét văn hóa truyền thống của một vùng quê ven biển…

Cá chuồn là loài cá duy nhất có thể bay lên khỏi mặt nước nhờ hai vây hông có thể dang rộng như cánh chim. (Hình ảnh: healtheocean.org)

Một trong những món ăn “hương vị quê hương” mà tôi nhớ nhất khi phải xa xứ là món cá viên chiên của mẹ. Cá chuồn có nhiều xương vụn, dễ mắc nghẹn, chỉ là thức ăn của người nghèo; Nhưng với chúng tôi, đó là con cá gắn bó với tuổi thơ khốn khó mà dù đã đi khắp năm châu bốn biển, thưởng thức đủ món ngon tôi vẫn không sao quên được.

Cá chuồn, tên khoa học Exocoetidae, tạm gọi là cá chuồn, là loài cá duy nhất có thể bay lên khỏi mặt nước nhờ hai vây hông có thể dang rộng như cánh chim. Cá chuồn thường đi thành đàn hàng nghìn con, mọc ở các rạn san hô, vách đá ở quần đảo Hoàng Sa và các đảo ở Biển Đông. Từ xa xưa, loài cá chuồn này đã là nguồn sống của ngư dân các vùng biển miền Trung. Cá chuồn có thể om, nấu canh với dứa, cà tím như các loại cá khác, có thể làm khô, làm món cá chuồn (chiên) rất đặc biệt và là nguồn nguyên liệu phong phú để làm mắm.

Mùa cá chuồn thường bắt đầu từ sau Tết Nguyên đán, kéo dài đến Tết Trung thu, kết thúc khi biển bắt đầu chuyển vì bão và gió mùa đông bắc. Hồi nhỏ, khoảng cuối thập niên 1950, người ta vẫn đi đánh cá bằng thuyền buồm, đánh bắt bằng lưới tre, mỗi chuyến ra khơi kéo dài cả tháng trời.

Cá chuồn chỉ là một phần nhỏ bán ra chợ, người nghèo mua về cắt sợi kho với mít hoặc nấu canh với cà pháo. Nhưng đặc sắc nhất phải kể đến món cá chuồn. Cá chuồn tươi xanh, rửa sạch, mổ bụng, bỏ ruột, cho gia vị vào bụng cá – gồm muối, nghệ, tỏi ớt và đặc biệt là phải có củ nén đập dập, gập đôi con cá lại, buộc bằng dây lá chuối rồi cho vào chiên. chảo mỡ hoặc dầu đậu phộng cho đến khi vàng nâu. Cá chuồn thơm và béo, vị lạ không lẫn với các món ăn khác. Cá chuồn còn có thể khoét một đường ở bụng, phơi khô làm món ăn cho những ngày mưa gió hay đi chợ xa vùng cao. “Ai về kể cội nguồn / Mít non gửi xuống, cá chuồn gửi lên” (dân gian). Khô cá chuồn nướng trên lửa than, nhâm nhi với rượu cần là món khoái khẩu của cánh đàn ông quê tôi vào những ngày biển không ra khơi được.

Nhưng phần lớn cá chuồn đánh bắt được bán cho các nhà thùng để làm mắm. Người ta thường nói đến mắm cá cơm, mắm cá thu; nhưng quê tôi chỉ làm mắm với cá chuồn, dù mắm ở quê tôi cũng khá nổi tiếng, từng đi vào thơ ca: “… Đêm Đà Nẵng vang sóng biển / Bún đậu chợ Chùa chấm mắm Nam Ô…” (“Một Miền Yêu Thương” của Tường Linh).

Nhà tôi nghèo, không sản xuất nước mắm mà chỉ làm thuê cho các nhà thùng trong làng, phụ trách làm sạch vảy cá chuồn trước khi ướp muối. Được mùa, mẹ tôi nhận cá từ nhà thùng, hai mẹ con suốt ngày lênh đênh trên bãi quay vảy cá. Mẹ tôi đã dùng sào bắc một cái chậu lớn để che nắng cho chỗ ngồi giữa cái nắng gay gắt của mùa hè. Mẹ tôi chặt vây cá rồi giao cho anh em tôi đánh vảy; Chúng tôi dùng lưỡi cùn cào khắp thân cá, cào từ đuôi lên đầu cho đến khi bong hết vảy rồi đem cá ra biển rửa sạch. Vảy cá bắn tung tóe trên mặt, dính vào tóc và rất ngứa trên da – tôi vẫn chưa quên cảm giác càng gãi thì càng ngứa. Chỉ khi kết thúc công việc cuối ngày, lao xuống biển ngụp lặn giữa làn nước mặn, tôi mới thoát khỏi cơn ngứa kinh khủng đó. Hồi đó lũ trẻ làng tôi đen như đốt cột nhà vì suốt hè chúng nằm ngoài bờ biển cạo sạch vảy cá chuồn.

Mùa cá chuồn thường bắt đầu từ sau Tết Nguyên đán và kéo dài đến Tết Trung thu. (Hình ảnh: fishcostarica.org)

Cá chuồn sau khi làm sạch được xếp vào thùng là những chiếc thau lớn bằng xi măng – cứ một lớp cá được phủ một lớp thính gồm muối hạt trộn với bột bắp theo tỷ lệ riêng của nhà. thùng rác; một lớp cá xen kẽ với một lớp thính, cứ thế cho đến khi đầy thì dùng tăm tre đậy lại. Mỗi xưởng sản xuất nước mắm thường có vài chục đĩa như vậy. Khoảng một năm sau, nước cá tiết ra thành nước mắm, nhà thùng chiết nước mắm ra từng giọt từ một cái hố dưới đáy ao. Nước mắm được đóng trong chai thiếc hoặc chai thủy tinh và bán ra thị trường.

Khác với cá cơm, ve sầu và các loại cá khác để làm mắm, cá chuồn không bị phân hủy trong quá trình làm mắm mà phần thân chỉ săn lại, để nguyên con. Sau khi để cạn nước mắm, người ta lấy cá chuồn trộn với bột bắp ra khỏi trại, tạo thành một món ăn mới, gọi là cá chuồn, vẫn có vị béo của cá nhưng thơm của mắm và có vị mặn lạ lùng. Cá chuồn về quê bán. Khi mùa mưa về kèm theo gió bắc mạnh, món cá chuồn xào cơm nóng là món ăn vô cùng hấp dẫn; Rẻ mà no căng bụng.

***

Hàng năm, tháng Chạp là thời điểm trời mưa to, tàu thuyền ở làng chài tấp nập vào bờ; Ngư dân vừa đón Tết vừa sơn lại thuyền, trám những chỗ rò rỉ nước, vẽ lại hai bên mũi thuyền. Sau Tết, cây nêu được hạ xuống cũng là lúc tất bật đẩy thuyền xuống nước chuẩn bị cho chuyến ra khơi.

Đẩy ghe là nghi lễ dân gian mở đầu cho một mùa làm ăn mới, cả làng ra biển xem bóng đá. Chủ thuyền sắp một mâm cúng với đủ thịt lợn và xôi. Một cụ già mặc áo dài đen, khăn xếp đứng trước mũi thuyền khấn vái rồi lớn tiếng đọc một bài đồng dao – bày tỏ mong muốn sóng yên biển lặng, thuyền đầy cá – gõ hai chiếc đũa bếp vào nhau (chiếc đũa to ) để bắt nhịp; Kết thúc mỗi bài đồng dao, các thanh niên lại cùng nhau đẩy thuyền theo nhịp của đàn anh. Chủ nhân của những chiếc thuyền sang trọng đã đốt những tràng pháo dài vài mét từ đỉnh cột buồm xuống đất để cầu may. Thức ăn thành phẩm được phân phát cho trẻ em hoặc để lại trên bãi cát, không bao giờ được mang về nhà. Bọn trẻ chúng tôi không đẩy thuyền mà chỉ lo nhặt pháo, làm lễ vật …

Mỗi thuyền câu có khoảng năm đến mười “bạn cùng nghề”, họ không phải là nhân viên mà là những người cộng tác, chia sẻ với chủ thuyền. Cá chuồn được tính theo cặp, mười hai đôi là một chục, mười chục là lam, mười lăm là tian, mười là ngón tay … Sau này học tiếng Việt, tôi mới biết “lam” là một ngón tay. Phiên âm từ âm “tlam” của người Việt cổ ở Thanh Hóa, chỉ số một trăm. Hình như chỉ có người dân quê tôi mới sử dụng cách đánh số đặc biệt như vậy. Và theo phong tục lâu đời, thuyền nào câu được nhiều hơn một ngón chân cá chuồn, khi về bến phải treo trên cột một tấm chiếu trắng rất lớn để báo cho những người đang chờ trên bờ biết …

Chiên cá chuồn. (Hình ảnh: Lưu Bình / plo.vn)

Những con cá chuồn đánh bắt được bán đấu giá. Chủ thuyền định giá rồi những người đóng thùng thi nhau ra giá. Cuối cùng, phần chênh lệch giữa giá bán và giá chủ thuyền đưa ra được trích riêng để hỗ trợ cho các gia đình nghèo, trẻ mồ côi và góa bụa trong làng. (Làng tôi có nhiều gia đình neo đơn khi người cha, người chồng của họ bỏ họ ra đi chiến trường, hoặc trong những chuyến đi biển không may gặp bão tố…). Phong tục nhường cơm sẻ áo ấy vẫn còn tiếp diễn cho đến tận sau này.

***

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa từ năm 1964 đến 1975, nghề đánh cá ở quê tôi có nhiều thay đổi: thuyền buồm dần dần được thay thế bằng thuyền gỗ, chạy bằng động cơ Kubota và Yanmar của Nhật chạy dầu diesel, công suất từ ​​33 mã lực đến 45 mã lực. đến 90 mã lực, thường đi Hoàng Sa, Đông Sa (Pratas), đôi khi tới phía Bắc đảo Đài Loan và Nam Trường Sa. Cá đánh bắt nhiều hơn, nghề làm mắm cũng phát triển mạnh; quê tôi có thêm nhà ngói; Con cái chúng ta có thể cắp sách đến trường, một số vào đại học, thay vì chỉ đánh vảy cá chuồn hay xuống thuyền đi làm “con” lo cơm nước phục vụ “đồng bọn” rồi. trở thành bạn bè một lần nữa khi họ lớn lên. nghề nghiệp hoặc vào quân đội Cộng hòa như các đàn anh của chúng ta.

Nhưng thời kỳ thịnh vượng đó không kéo dài. Sau biến cố năm 1975, phong trào vượt biển tìm tự do nổi lên, đội tàu đánh cá của làng tôi – cũng như các làng ven biển miền Trung khác – bỏ đi gần hết. Nghề bay và nghề cá nói chung lâm vào cảnh sống dở chết dở, vì ngư dân trẻ không còn, xăng thiếu, tàu thuyền nhỏ ọp ẹp, làm ăn ven bờ.

Những năm sau đó, nghề đánh bắt cá có phần hồi sinh nhờ những đội tàu đóng mới bằng đô la Mỹ được gửi từ Louisiana, New Mexico, Florida … nơi mà những người làng tôi định cư trên quê hương mới vẫn tiếp tục đánh bắt, đánh bắt. tôm ở Vịnh Mexico. Tuy nhiên, khi tôi hỏi chuyện, ngư dân làng chài – nay đã thành thị – cho biết họ không còn ra khơi đánh bắt cá chuồn nữa mà chỉ loanh quanh trong lãnh hải, câu mực hoặc bắt cá nhỏ.

Chính phủ Việt Nam cũng có chương trình “đánh bắt xa bờ”, cho ngư dân vay tiền đóng tàu lớn, công suất từ ​​450 đến 800 mã lực, trợ giá xăng dầu để ngư dân đánh bắt xa bờ, một phần là do nguồn cá. đánh bắt gần bờ đã cạn kiệt, một phần do chính quyền muốn lấy ngư dân làm “cột mốc chủ quyền sống” để “bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia trên biển”. Nhưng chương trình này kém hiệu quả và tham nhũng, để lại cho ngư dân những món nợ khổng lồ, đến nỗi năm 2020, Đài Tiếng nói Việt Nam Hà Nội đăng phóng sự “Đánh cá xa bờ hay ‘đánh bạc’ xa bờ?” báo cáo rằng chính quyền Cộng sản đã cho ngư dân vay 10.500 tỷ đồng (khoảng 455 triệu đô la), nhưng trong đó một phần ba là nợ khó đòi không thu hồi được.

Nguyên nhân là tàu lớn nhưng ngư dân không dám đi xa vì tàu Trung Quốc đuổi theo, nhấn chìm tàu ​​và bắt giữ ngư dân đòi tiền chuộc. Các ngư trường xung quanh quần đảo Hoàng Sa và phía bắc hoàn toàn thuộc về Trung Quốc; Những ngư dân miền Trung phải trôi dạt vào quần đảo Trường Sa, có khi lạc vào vùng biển Mã Lai hay Indonesia, cũng bị bắt, bị bỏ tù và tàu của họ bị phá hủy. Vùng nước ấm phía nam của biển không phải là nơi sinh sản chính của cá chuồn.

Những năm gần đây về thăm quê, chúng tôi ít được thưởng thức món cá chuồn mẹ cho ăn khi còn nhỏ. Khô cá chuồn, cá chuồn đã biến mất hoàn toàn, không thấy đâu nữa. Cũng không còn nhà làm mắm như trước vì không có nguồn cá. Nghề làm nước mắm truyền thống gần như chết vì không cạnh tranh được với “nước mắm giả” pha bằng hóa chất, pha chút hương cá rồi quảng cáo là nước mắm Nam Ngư, Chinsu. đầy đủ các chợ và siêu thị tại Việt Nam. Theo đà phát triển lạ lùng ở Việt Nam, những làng biển dần biến thành những khu du lịch, resort, biệt thự nghỉ dưỡng, hóa chất thay cho nước mắm, cá chuồn quê tôi giờ chỉ còn là dĩ vãng. Không còn tình làng nghĩa xóm đùm bọc nhau đêm lửa tắt đèn ngày xưa.

Người xa xứ mất mát nhiều thứ; Với tôi, con cá chuồn gắn bó với tuổi thơ và làng quê nay đã không còn nữa. Một nỗi buồn khó tả. [qd]

Thanh Thuy

Leave a Reply

Your email address will not be published.