VNTB – Từ hồi ký sắp xuất bản của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt (Phần 4) – Thời báo Việt Nam

Rate this post

Nhóm viết hoạt động

(VNTB) – Trực tiếp đọc Marx, tôi hiểu tại sao Marx lại thu hút nhiều trí thức.

Marx đã viết bằng cả trái tim và khối óc của mình. Văn bản hấp dẫn, lập luận sắc bén. Thêm vào đó là kiến ​​thức sâu rộng. Nhưng đồng thời tôi cũng hiểu vì sao Lý Đông A lại có thể nhìn ra những sai lầm cơ bản của Mác. Sai lầm khi không phân biệt được con người và thiên nhiên vừa thống nhất vừa đối lập. Như vậy không thấy rằng chỉ khi nào con người biết cách ly với tự nhiên, không bị thiên nhiên hóa, tìm hiểu, khai thác và điều chỉnh tự nhiên để xây dựng và phát triển đời sống con người cụ thể thì con người mới có thể bắt đầu bước đầu lịch sử của nó. Như Lý Đông A đã nói: “Nhân loại có được thành tựu là do tự nhiên tu dưỡng” . Và do đó, thời kỳ nguyên thủy, khi con người vẫn hòa mình với thiên nhiên và sống thuận theo tự nhiên như các loài động vật khác, không thể được coi là thời kỳ đầu tiên của lịch sử loài người, và là hình thức mẫu mực của xã hội loài người, mà Marx gọi là “chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy”.

Lý Đông A cũng cho rằng, không thể có “kinh tế tự nhiên” như quan niệm của Marx vì không có kinh tế về bản chất và kinh tế là hành vi của con người nhằm tách rời và sửa chữa tự nhiên. Từ đó tôi hiểu tại sao Lý Đông A lại nhận xét rằng Marx muốn nâng con người lên như sắt và muối trong phòng thí nghiệm. Đồng thời bác bỏ quy luật mâu thuẫn của Mác và cho rằng, mâu thuẫn giai cấp chỉ xảy ra trong giai đoạn bệnh xã hội chứ không phải là quy luật vĩnh viễn của xã hội loài người. Lấy trạng thái bệnh tật làm quy luật bình thường, và biến nó thành quy luật đấu tranh không chỉ là sai lầm mà còn là tội ác.

Nhiều điều học được đã giúp tôi hiểu được nhiều quan điểm tiểu thuyết mà chính Lý Đông A đã đưa ra vào đầu những năm 1940, khi ông mới 20 tuổi. Giống như học thuyết cá nhân của mình. Khi còn ở Sài Gòn, tôi không hiểu nhiều, chỉ mơ hồ thấy đây là một mô hình tổ chức và quản lý mới nhằm hiện thực hóa lý tưởng làm chủ của anh Lý, nhưng không thấy rõ như thế nào. Khi học về lý thuyết hệ thống

Tôi vừa mới hiểu giáo lý về cái tôi. Lý thuyết hệ thống là một phát hiện lớn trong khoa học quản lý phương Tây, đưa ra một tầm nhìn mới, một mô hình tổ chức và quản lý hoàn toàn mới, không phải theo mô hình kim tự tháp mà là theo mô hình. mạng, mạng, mà LDA gọi là cơ giới hóa. Mỗi đơn vị, mỗi cấu trúc, mà LA gọi là một “đơn vị” (đơn vị trong tiếng Anh) kết hợp và vận hành bởi nhiều thành phần khác nhau nhưng hướng về cùng một trung tâm, mà LA gọi là “cơ khí”. yếu tố “. Vào thời điểm tôi làm luận án tiến sĩ, tức là vào đầu những năm 1970, lý thuyết hệ thống mới bắt đầu được ứng dụng trong quản lý kinh tế, thương mại và quân sự. Những thập kỷ sau tiếp tục được phát triển và ứng dụng trong tất cả các ngành của xã hội ở các nước tiên tiến. Điều mà Lý Đông A quan tâm khi đề xuất mô hình chức năng cơ bản và hệ thống chính trị – xã hội mà ông gọi là hệ thống cơ giới hóa, không chỉ là hiệu quả của công việc, mà điều quan trọng hơn là vị trí, vai trò của con người, con người trong tổ chức và trong công việc; là mối quan hệ giữa người lao động với tổ chức và công việc. Ông nói: “Điểm yếu của Stakhanovisme và Taylorisme là mục tiêu là hiệu suất của công việc, trong khi chức năng vận động lấy việc thúc đẩy cuộc sống trong làm việc như mục tiêu. “(**)

Từ đầu năm 1974 trở đi, sau khi công việc ở Vạn Hạnh tạm ổn, tôi bắt đầu tập trung vào sinh hoạt Duy Đàn. Tôi bảo thầy tôi cho tái bản nội san Nghĩa Gốc. Tôi trực tiếp phụ trách cùng một số anh em trẻ lo bài vở đến khâu in ấn. Lúc đầu, chúng tôi cố gắng phát hành một số hàng tháng, sau đó đôi khi mất hơn một tháng để phát hành một số. Tất cả các bài báo quan trọng tôi đã cho giáo viên của tôi xem trước khi chúng được in. Một đồng chí của giáo viên tôi tương đối khá giả đã mua một chiếc máy in rono mới để giúp việc in ấn.Tôi cũng tìm cơ hội để phổ biến ý tưởng của anh Lý trong học sinh. Sự hiểu biết của tôi về các ngành học mới của Âu Mỹ đã giúp tôi hiểu rõ hơn các quan niệm của ông Lý, đặc biệt là về mặt lý thuyết thực tiễn, đó là kế hoạch xây dựng xã hội. Tôi kể về những khám phá của mình với những người bạn thân và một số học sinh nhỏ tuổi. Tôi chú trọng phổ biến tư tưởng, càng về sau tôi càng ít chú ý đến công tác tổ chức đảng. Tôi nghĩ đảng Đại Việt Duy Dân đã đi vào lịch sử. Nhiệm vụ lịch sử của nó là thông báo cho dân tộc biết rằng đã có một Lý Đông A và một hệ thống tư tưởng và phương pháp luận mới. Những người hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Đại Việt Duy Dân đã làm tròn nhiệm vụ của mình đúng như lời Lý Đông A viết trong bài “Thế hệ”:

“Trong thế kỷ XX, Việt Nam đã trải qua bốn thế hệ dân tộc, mỗi thế hệ có một mô hình riêng, nó đánh dấu sự tiến hóa tự nhiên của giống nòi qua từng giai đoạn. Lấy năm 1940, những người già từ 50 tuổi trở lên không còn chỗ làm chủ thời cuộc. Anh chị em chúng ta từ 30 tuổi cũng không phải ai cũng thích hợp và có tầm nhìn xa, tầm nhìn có nền tảng thực sự để dẫn dắt cuộc sống đầy khó khăn mới này trên một nền văn minh mới và sáng tạo. cho quốc gia. Còn đối với con người ngày nay, tức là 30 tuổi trở lại, 16 tuổi trở lên, đó chỉ là những nút thắt để chuẩn bị và truyền thông cho một kỷ nguyên Việt Nam phát triển vượt bậc và hạnh phúc bằng máu, xương và khổ đau, giai cấp này. nền tảng của một nền văn minh mới. Nhưng những chủ nhân thực sự của nền văn minh Vạn Thắng mới của Việt Nam là những đứa trẻ 16 tuổi của chúng ta đã trở về. Họ sẽ dũng cảm đứng lên chỉ huy lịch sử dân tộc cho mai sau ”.

Nhưng có một nhiệm vụ quan trọng hơn. Đó là sự phát triển và thực hiện những quan điểm mới này trong đời sống cá nhân và xã hội. Nhiệm vụ này chỉ có thể được thực hiện bởi những người được trang bị cả kiến ​​thức và kỹ năng. Nhận thức quan liêu khắp Đông Tây kim cổ để định hướng hành động, làm cho hành động có động cơ và tính nhân đạo, thúc đẩy lối sống độc đáo của loài người, mà Lý Đông A gọi là Chủ nghĩa nhân văn, lối sống của con người. Để con người không bị lạc theo động vật hay hoàn toàn theo thiên nhiên một cách vô tình, vô định, cái mà Lý Đông A gọi là “thiên biến vạn hóa”. Và trang bị kỹ năng khoa học để biến nhận thức thành hành động, biến ý tưởng thành quá trình thực tế và kết quả cụ thể, cải thiện cuộc sống của con người cả về tinh thần và vật chất, cả về chất và lượng. .Và điều quan trọng hơn là nhiệm vụ này không thể hoàn thành trong bất kỳ hình thức khuôn khổ cứng nhắc và khép kín nào, cả trong suy nghĩ và hành động. Về mặt tư duy, tuy Lý Đông A gọi hệ thống tư tưởng của mình là “chủ nghĩa”, nhưng ông cũng tin chủ nghĩa sinh ra từ dân tộc, nhưng dân tộc không phải sinh ra từ chủ nghĩa.

Về lý thuyết danh xưng, tuy Lý Đông A gọi nó là “Duy Dân”, nhưng thực ra trong hệ thống tư tưởng của ông không chỉ có một “duy nhất” mà có ba “duy nhất” là Duy Nhiên, Duy Nhân và Duy Đan. . Sở dĩ lấy “chỉ” để đặt tên là vì muốn nhấn mạnh phần thực hiện trong xã hội, phần vì dân và do dân (Duy Dân). Hơn nữa, “chỉ” là chỉ để chỉ phần trừu tượng, phần tư duy, “phạm trù tư tưởng”. Trên thực tế, cuộc đời con người không thể có một “cái” riêng lẻ và biệt lập. Cả ba thứ “duy nhất” hòa quyện vào nhau không thể tách rời. Nếu có, thì chỉ có thể có một cái “duy nhất” là Duyên Nhiên, là bản chất thuần túy, bên ngoài và tách biệt với con người như đại thiên nhiên, đại vũ trụ, không cần con người cũng có. Nhưng trong cuộc đời con người, thiên nhiên đã thay đổi và có quan hệ mật thiết với con người, và do đó không còn chỉ là “tuy nhiên” nữa, mà luôn liên quan đến “chủ nghĩa nhân văn” và “chủ nghĩa bình dân”. .

Nhưng nó được gọi là chủ nghĩa Duy Dân vì “Chữ DUYÊN của chúng tôi có nguồn gốc từ Phan Bội Châu. Người nói: “Dân bất chỉ Tâm, không trọng vật chất, nhân chỉ dân” (dân chỉ vì dân). Suy cho cùng, mọi nền tảng xây dựng của con người cũng chỉ là xây dựng vì con người mà thôi ”. Và vì vậy, giống như mọi tư tưởng vĩ đại khác của con người, mọi tên gọi, sự cơ giới hóa tư tưởng và hình thức tổ chức đều có thể dễ dàng làm sai lệch hoặc che khuất những nét tinh túy nhất của nó. điều đó, nếu chúng ta không cẩn thận, và hiểu hết ý nghĩa của nó.

Lý Đông A đã thành công trong việc soạn một bộ học thuyết khá hoàn chỉnh mà ông gọi là “Việt Duy Dân Quốc bản thảo Toàn thư”. Ngày nay ông không còn nữa, nhưng những tác phẩm do ông biên soạn vẫn được các đệ tử của ông lưu giữ khá tốt, từ thế hệ ban đầu, năm 1940, đến ngày nay, thế hệ 2000, nay đã được chuyển thể thành các tác phẩm nghệ thuật. Có các phiên bản điện tử (PDF), một số đã được chú thích và hơn 20 tập được đưa vào một trang chủ để mọi người quan tâm có thể tham khảo.

Lý Đông A biết rằng công việc cách mạng của mình không có điều kiện thành công. Theo lời kể của ba tôi, khi mới vào Đảng Duy Dân, Lý Đông A đã dặn “tử tế, không quý, không đông”. Tuy nhiên, cha tôi quá nhiệt tình và những người mà ông phát triển cũng nhiệt tình như ông, nên sau một thời gian, ông đã phát triển được rất nhiều đồng chí. Vào cuối năm 1944, khi báo cáo thành tích này với Lý Đông Á, ông đã bị khiển trách, mặc dù ông cũng được nhận vào thành lập Sĩ quan 002, trong đó ông là Trưởng đoàn.

Cha tôi kể, đầu năm 1945, Lý Đông A đến thăm ông tại nhà riêng ở làng Yên Phúc, Hà Đông, trải một tấm bản đồ, chỉ vào một địa điểm trong bản đồ và nói rằng cộng sản đã bị Tây bắt. cao cấp ở đó. Tôi hạnh phúc và nói rằng nó đã suy yếu. Anh Lý cười nói không biết, không phải là yếu đi, càng ngày càng mạnh. Đến giữa năm 1945, ông Lý trở về và nói với tôi rằng bố tôi sẽ cùng ông đến nhà một đồng chí ở Ninh Bình và mượn hai phòng trọ. Anh Lý nói mẹ con tôi ở phòng ngoài đề phòng không cho ai vào phòng trong để anh ngồi lặng lẽ xem xét sự tình. Lý tiên sinh định ngồi như vậy khoảng một tuần, mấy ngày sau mới nói xong. Trước khi chia tay, ông Lý nói với thầy: “Mùa thu năm nay Việt Minh sẽ nổi lên, thời cơ của chúng ta chưa đến, chúng ta phải rút lui. Tôi sẽ ra lệnh giải tán Tổng bộ Đảng, nhưng thưa ông, không cho ai cả. biết chưa.” Sau đó, hai người chia tay. Đầu năm 1946, sau biến cố Hòa Bình, một hôm có đồng chí đi xe đạp từ Hà Nội về, nói anh Lý muốn gặp mẹ ruột tôi. Nhưng lúc đó tôi phải hết sức cẩn thận, bị theo dõi rất chặt chẽ, nếu ra Hà Nội có thể lộ ra nơi anh Lý trốn. Hôm sau người này quay lại và đưa cho mẹ ruột tôi một tờ giấy do Lý Đông Á viết, nét chữ rất nhỏ. Đó là lệnh chính thức giải tán Xứ ủy, đồng thời chỉ thị cho mỗi nơi tự sinh hoạt không chờ lệnh trên. Kể từ đó, ba tôi không nhận được tin tức gì về Lý Đông Á nữa.

_______________________


Lý Đông A. “Thế hệ”. Bông lau nhà. 4822 TV, 1943 – tr. 10-11. https://thangnghiadotorg.files.wordpress.com/2020/05/tieu-luan-thang-nghia.pdf

Thanh Thuy

Leave a Reply

Your email address will not be published.