“Khởi nghĩa Lam Sơn – Dấu ấn chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc”: Bài 3 – Bình Định Vương Lê Lợi

Rate this post

Đã hơn 600 năm trôi qua, kể từ khi “ngọn lửa khởi nghĩa” do người anh hùng dân tộc Lê Lợi khởi xướng và lãnh đạo đã phá bỏ ách nô lệ lầm than, khôi phục độc lập dân tộc và bắt đầu kỷ nguyên mới. sự phát triển trong lịch sử chế độ phong kiến ​​Việt Nam; Hình ảnh vị lãnh tụ thiên tài của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vẫn sáng mãi trong lịch sử dân tộc. Đó là ánh sáng từ sự kết hợp của “ý chí vào đời”, nghị lực phi thường, tư tưởng nhân đạo cao cả và nghệ thuật quân sự tài tình.

Tượng đài Anh hùng dân tộc Lê Lợi được xây dựng tại trung tâm thành phố Thanh Hóa, trở thành điểm đến văn hóa – tâm linh của người dân xứ Thanh và du khách thập phương. Ảnh: Thùy Linh

“Lương giang trời mở lòng người. Tổ tiên vua Lê Thái Tổ đáp tuần mới”. Đó là hai câu thơ trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Nghĩa ca ngợi vùng đất Lương Giang (nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa) – nơi sinh ra vị lãnh tụ thiên tài của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. năm 1385, tại làng Lam Sơn, huyện Lương Giang (nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Thần khen ngợi, người xưa miêu tả về Lê Lợi: “khôi ngô khác thường, có thần thái và dáng vẻ rắn rỏi, mạnh mẽ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, vai có nốt ruồi, giọng nói như chuông, đi như rồng, bước đi như một con hổ, những người tỉnh táo biết rằng họ là những người phi thường ”(Lam Sơn Thực Lục).

Lớn lên trong thời kỳ đất nước đầy biến động, đặc biệt chứng kiến ​​đủ tội ác của quân Minh xâm lược. Chúng cai trị đất nước chúng ta bằng những chính sách thâm độc và độc ác như tịch thu sách sử và phân phát kinh sách của chúng; phá hủy các công trình kiến ​​trúc; làm cho nhân dân ngột ngạt với chế độ sưu cao, thuế nặng, thắt lưng buộc bụng; chà đạp phụ nữ, tàn sát dã man thường dân… Có lẽ, chứng kiến ​​cảnh dân tộc chịu cảnh “nướng dân đen”, “vùi dập con đỏ” ​​đã hình thành trong anh tấm lòng thương dân, đồng cảm với khổ đau. của người dân; nuôi dưỡng lòng yêu nước, nêu cao ý chí thay đổi tình thế để cứu nước, cứu dân. Phải thương dân, thấu hiểu nỗi đau của nhân dân như thế nào thì ông mới vạch trần tội ác của quân Minh xâm lược một cách rõ ràng: “Tội ác của giặc đầy rẫy, thần dân phẫn nộ: chúng đào mồ chôn ta, bắt bớ dân ta, giết hại người trung thực. ” Chữ “ý chí trong thương binh” đã thấm sâu vào tâm hồn, trở thành điều cần thiết trong mọi suy nghĩ và hành động, Lê Lợi đã biến trại Lam Sơn thành nơi trú ngụ của bao mảnh đời, giúp họ không phải chịu bao gian khổ. , đàm tiếu, đe dọa, đánh đập. Đồng thời, ông quyết chí siêng năng, đọc sách thao lược, dốc hết của cải để đãi khách, phát gạo giúp dân nghèo, chiêu mộ người chống giặc Minh, bí mật nuôi dạy người tài trí. Mặt khác, nó khéo léo thoát khỏi sự chú ý, kiểm soát của bọn cướp, băng nhóm bán nước… Đó cũng là yếu tố cơ bản hình thành nên chủ nghĩa nhân văn của người cầm đầu. Chính chủ nghĩa nhân đạo ấy đã trở thành nền tảng cho thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau này.

Khi hàng trăm cuộc nổi dậy lớn nhỏ từ mọi miền đất nước nổ ra, được nhiều người hưởng ứng nhưng Lê Lợi vẫn kiên quyết ở ẩn. Không phải Lôi Dận không nghe rõ tiếng kêu cứu của mọi người, mà là hiện tại hắn coi như thời cơ chưa chín muồi nên càng ngày càng ẩn mình, không để lộ thanh danh. Đã lâu anh không tham gia hoạt động nào trong khi phong trào cứu nước đang sôi sục khắp nơi. Thay vào đó, ông nghiên cứu chiến lược, rút ​​kinh nghiệm lịch sử, xác định phương hướng cho cuộc kháng chiến lâu dài để xây dựng căn cứ địa vững chắc làm chỗ dựa cho cuộc kháng chiến lâu dài; tạo thành lực lượng nòng cốt cho cuộc kháng chiến. Nhiều bình luận cho rằng, sự im lặng của anh khi đó thể hiện sự tính toán, phán đoán của một người tỉnh táo, mang trên mình khí chất anh hùng: Sự im lặng của một ý chí lớn.

Phát động khởi nghĩa giải phóng dân tộc là việc làm của tinh thần chính nghĩa cao cả. Lê Lợi cũng như các thủ lĩnh nghĩa quân trước đây đều mang theo khát vọng đó khi phất cờ khởi nghĩa. Nhưng điểm khác biệt nổi bật của Lê Lợi so với các bậc tiền bối hay các thủ lĩnh nghĩa quân khác là ông và bộ tham mưu của mình đã xác định rõ lôgic làm cơ sở cho mọi hoạt động của mình. Đó là “chính nghĩa vĩ đại thắng hung tàn”, “nhân ái thay bạo tàn”, “âm mưu trừng trị công lý”, “không đánh mà dân chịu thua”. Đồng thời, xác định rõ chiến lược kháng chiến, lợi dụng địa hình đồi núi miền Tây Thanh Hóa để “địch ít, đánh yếu đánh mạnh, lúc có chiến, lúc thì hòa để tiêu hao địch. sinh lực và bảo toàn lực lượng của địch. ” nghĩa quân ”. Chính những lý luận và sách lược rõ ràng, đúng đắn đó đã làm cho chiến tranh du kích của nghĩa quân Lam Sơn ngày càng lớn mạnh và trở thành chiến tranh nhân dân.

Điều này được minh chứng bằng sự kiện Hội thề Lũng Nhai. Lê Lợi đã tuyển chọn, quy tụ 18 vị hào kiệt để dâng lễ, đổ máu chiến đấu với đất trời, sông núi, thề chung tay đánh giặc. Lễ hội thề là sự kiện đặt nền móng đầu tiên và vững chắc cho cuộc khởi nghĩa. Thời cơ, năm Mậu Tuất 1418, Bình Định Vương Lê Lợi chính thức khởi nghĩa Lam Sơn. Trước sự truy đuổi quyết liệt của quân Minh, nghĩa quân phải lui về núi Chí Linh ẩn náu (thuộc xã Giao An, huyện Lang Chánh). Bị quân Minh bao vây, nghĩa quân hết lương thực. Trước tình thế nguy cấp đó, Lê Lai đã tự nguyện đóng giả Lê Lợi dẫn quân đột phá vòng vây đánh lừa quân địch. Lê Lợi và nghĩa quân thoát khỏi vòng vây của kẻ thù.

Sau sự kiện đó, quân Minh liên tục kéo vào tấn công nghĩa quân Lam Sơn. Lúc này, nghĩa quân có khoảng vài chục quan quân, vài trăm quan sắt và vài trăm nghĩa sĩ, Bình Định Vương cho rút quân về đóng quân ở Lạc Thủy (nay là huyện Cẩm Thủy) để lập quân chờ sẵn. kẻ thù đến. Khi địch đến gần, các mũi quân phục kích của nghĩa quân đã chặt hàng nghìn tên địch, thu giữ vật tư, vũ khí. Nhân lúc ở Mường Một, Bình Định Vương cho quân mai phục, bắn tên độc, giết chết địch và bị thương quá nửa. Tiếp theo là các trận Bà Lẫm, Sách Khối, Trà Lân… Sau khoảng 3 năm khởi nghĩa nổ ra, tiếng tăm của Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn ngày càng lan rộng. Nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, Bình Định Vương Lê Lợi bắt đầu thực hiện các chiến lược tấn công ngoại giao và chính trị. Năm 1426, Bình Định Vương mở rộng quân đội ra Bắc. Cùng với việc điều binh khiển tướng, ông còn dụ địch bằng những lá thư, làm cho địch lung lay ý chí và tinh thần chiến đấu. Nhờ vậy, tuy lực lượng mỏng hơn người phiên dịch nhưng nghĩa quân Lam Sơn đã giành được chiến thắng lẫy lừng với các trận Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng, Xương Giang hay “Trận sấm sét Bồ Đằng”.

Không chỉ giàu lòng nhân ái, ý chí và nghị lực phi thường, Bình Định Vương còn giỏi điều binh, khiển tướng một cách linh hoạt, tài tình. Trước một nhiệm vụ cụ thể, Bình Định Vương luôn chọn đúng người, bàn bạc kỹ lưỡng giúp các tướng lĩnh mưu lược, nắm chắc ý đồ. Đặc biệt, Lê Lợi còn có nhân cách của một nhà lãnh đạo tài ba. Đó là, dứt khoát và vâng lời. Điều này đã được Nguyễn Trãi nói rất tự hào về vị lãnh tụ của mình đối với ông, “nói hết thì nghe, nói sau thì làm theo”. Qua cách điều binh khiển tướng, cho thấy Lê Lợi không chỉ là một người quân tử mà còn là một nhà tổ chức giỏi, biết thương dân. Những yếu tố đó đã tạo nên một nhà lãnh đạo thiên tài và làm nên thành công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Đồng thời thể hiện rõ tài năng lãnh đạo, tầm nhìn chiến lược và tấm lòng nhân đạo của Bình Định Vương Lê Lợi. Dù đã hơn 6 thế kỷ trôi qua, nhưng chủ nghĩa nhân đạo và những quan điểm, chiến lược đúng đắn của Lê Lợi vẫn còn nguyên giá trị, cần được tiếp tục nghiên cứu và phát huy trong sự nghiệp xây dựng và phát triển. bảo vệ đất nước trong thời kỳ đổi mới.

(Bài viết có sử dụng một số tư liệu từ sách “Lam Sơn Thực Lục”).

Bài 4: Từ sự tích Lê Lai cứu chúa đến di tích đền thờ Lê Lai.

Thùy Linh

Thanh Thuy

Leave a Reply

Your email address will not be published.